CÁC BÀI VIẾT KHÁC
- Cài đặt module Perl trong Linux không cần quyền root
- Bắt Youtube tự động phát lại video
- Tạo máy ảo trong Hyper-V trên Windows Server 2008
- Tìm hiểu về hệ thống trang about của Firefox
- Tạo ổ đĩa logic trong Windows 7
- CẤU HÌNH APACHE CHẠY NHIỀU HOST
- Đồng bộ iPod với máy tính không mất dữ liệu
- Cài đặt Hyper-V Virtualization trên Windows Server 2008 R2
- Gắn Network Drive trên Windows Client bằng Group Policy
- Tự động mã hóa EFS trong Windows XP, Vista hoặc Windows 7
- Hướng dẫn cài đặt Cinnamon của Linux Mint trên Ubuntu
- Tối ưu hóa Opera để cải thiện khả năng bảo mật
- Bảo mật quá trình cài đặt ISPConfig 3 với Certificate Class1 SSL của StartSSL (P.3)
- Bảo mật quá trình cài đặt ISPConfig 3 với Certificate Class1 SSL của StartSSL (P.2)
- Bảo mật quá trình cài đặt ISPConfig 3 với Certificate Class1 SSL của StartSSL (P.1)
ĐỌC NHIỀU
- Cách Crack Wifi dùng khóa WEP với BackTrack 3
- Những công cụ làm đẹp desktop của window 7
- Cách tạo Mật khẩu an toàn
- Cách tắt/bật windows firewall trong Windows 7
- Hướng dẫn sử dụng Radmin Remote Administrator
- Cài đặt lại hay sửa chữa Internet Explorer và Outlook Express trong Windows XP
- Tổng hợp các port thông dụng
- IPSec và các mục đích sử dụng
- Server đang lắng nghe trên Port nào ?
- Admin quên Domain Admin Password trên Windows 2003 Server, cách giải quyết ?
- Tấn công File Inclusion (File Inclusion Attacks)
- Giám sát toàn bộ hoạt động của Windows XP Professional và Server 2003
- Áp dụng chữ ký điện tử trong giao dịch mail và mã hóa dữ liệu
- Bảo mật Wi-Fi: Lựa chọn giải pháp nào ?
- Phân quyền truy cập file bằng lệnh chmod
- 15 phần mềm bảo mật FREE hiệu quả nhất
- Mã hóa dữ liệu EFS làm việc như thế nào ?
- Dùng lệnh su “switch user” để chuyển đến người dùng
- Hướng dẫn về bảo mật Windows Vista
- Tạo VPN Site-to-site trên ISA 2006
| Bảo mật Wi-Fi: Lựa chọn giải pháp nào ? |
|
Bảo mật là vấn đề rất quan trọng và đặc biệt rất được sự quan tâm của những doanh nghiệp. Không những thế, bảo mật cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp e ngại khi cài đặt mạng cục bộ không dây (wireless LAN). Họ lo ngại về bảo mật trong WEP(Wired Equivalent Privacy), và quan tâm tới những giải pháp bảo mật mới thay thế an toàn hơn.
IEEE và Wi-Fi Alliance đã phát triển một giải pháp bảo mật hơn là: Bảo vệ truy cập Wi-Fi WPA (Wi-Fi Protected Access) và IEEE 802.11i (cũng được gọi là "WPA2 Certified" theo Wi-Fi Alliance) và một giải pháp khác mang tên VPN Fix cũng giúp tăng cường bảo mật mạng không dây. Vậy, chúng ta nên lựa chọn giải pháp bảo mật nào cho mạng không dây? WEP (Wired Equivalent Privacy) có nghĩa là bảo mật không dây tương đương với có dây. Thực ra, WEP đã đưa cả xác thực người dùng và đảm bảo an toàn dữ liệu vào cùng một phương thức không an toàn. WEP sử dụng một khoá mã hoá không thay đổi có độ dài 64 bit hoặc 128 bit, (nhưng trừ đi 24 bit sử dụng cho vector khởi tạo khoá mã hoá, nên độ dài khoá chỉ còn 40 bit hoặc 104 bit) được sử dụng để xác thực các thiết bị được phép truy cập vào trong mạng, và cũng được sử dụng để mã hoá truyền dữ liệu. Không dự đoán được những lỗi trong khoá mã hoá, WEP có thể được tạo ra cách bảo mật mạnh mẽ hơn nếu sử dụng một giao thức xác thực mà cung cấp mỗi khoá mã hoá mới cho mỗi phiên làm việc. Khoá mã hoá sẽ thay đổi trên mỗi phiên làm việc. Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho hacker thu thập đủ các gói dữ liệu cần thiết để có thể bẽ gãy khoá bảo mật. Nhận ra sự yếu kém của WEP, những người sử dụng doanh nghiệp đã khám phá ra một cách hiệu quả để bảo vệ mạng không dây WLAN của mình, được gọi là VPN Fix. Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là coi những người sử dụng WLAN như những người sử dụng dịch vụ truy cập từ xa. Trong cách cấu hình này, tất các những điểm truy cập WLAN, và cũng như các máy tính được kết nối vào các điểm truy cập này, đều được định nghĩa trong một mạng LAN ảo (Vitual LAN). Trong cơ sở hạ tầng bảo mật, các thiết bị này được đối xử như là "không tin tưởng". Trước khi bất cứ các thiết bị WLAN được kết nối, chúng sẽ phải được sự cho phép từ thành phần bảo mật của mạng LAN. Dữ liệu cũng như kết nối của các thiết bị sẽ phải chạy qua một máy chủ xác thực như RADIUS chẳng hạn... Tiếp đó, kết nối sẽ được thiết lập thành một tuyến kết nối bảo mật đã được mã hoá bởi một giao thức bảo mật ví dụ như IPSec, giống như khi sử dụng các dịch vụ truy cập từ xa qua Internet. Thật may mắn, sự lựa chọn giao thức xác thực chỉ cần vài yếu tố cơ bản. Trước hết, một cơ chế chỉ cần cung cấp một hoặc 2 cách xác thực, có thể gọi là sự xác thực qua lại (mutual authentication), có nghĩa là mạng sẽ xác thực người sử dụng và người sử dụng cũng sẽ xác thực lại mạng. Điều này rất quan trọng với mạng WLAN, bởi hacker có thể thêm điểm truy cập trái phép nào đó vào giữa các thiết bị mạng và các điểm truy cập hợp pháp (kiểu tấn công man-in-the-middle), để chặn và thay đổi các gói tin trên đường truyền dữ liệu. Và phương thức mã hoá MD5 không cung cấp xác thực qua lại nên cũng không được khuyến khích sử dụng WLAN. Một giải pháp về lâu dài là sử dụng 802.11i tương đương với WPA2, được chứng nhận bởi Wi-Fi Alliance. Chuẩn này sử dụng thuật toán mã hoá mạnh mẽ và được gọi là Chuẩn mã hoá nâng cao AES (Advanced Encryption Standard). AES sử dụng thuật toán mã hoá đối xứng theo khối Rijndael, sử dụng khối mã hoá 128 bit, và 192 bit hoặc 256 bit. WPA (Wi-Fi Protected Access) Nhận thấy được những khó khăn khi nâng cấp lên 802.11i, Wi-Fi Alliance đã đưa ra giải pháp khác gọi là Wi-Fi Protected Access (WPA). Một trong những cải tiến quan trọng nhất của WPA là sử dụng hàm thay đổi khoá TKIP (Temporal Key Integrity Protocol). WPA cũng sử dụng thuật toán RC4 như WEP, nhưng mã hoá đầy đủ 128 bit. Và một đặc điểm khác là WPA thay đổi khoá cho mỗi gói tin. Các công cụ thu thập các gói tin để phá khoá mã hoá đều không thể thực hiện được với WPA. Bởi WPA thay đổi khoá liên tục nên hacker không bao giờ thu thập đủ dữ liệu mẫu để tìm ra mật khẩu. Không những thế, WPA còn bao gồm kiểm tra tính toàn vẹn của thông tin (Message Integrity Check). Vì vậy, dữ liệu không thể bị thay đổi trong khi đang ở trên đường truyền. Sự chuyển hướng sang WPA vẫn còn là những thử thách. Mặc dù, vẫn còn những lỗ hổng về bảo mật và có thể những lỗ hổng mới sẽ được phát hiện. Nhưng tại thời điểm này, WPA là lựa chọn tốt. Minh Phúc (Theo Newsfactor)
|


